|
Năm 2009 là năm có diễn biến khí tượng – thủy văn rất phức tạp. Trên phạm vi cả nước xảy ra nhiều hiện tượng thời tiết – thủy văn nguy hiểm như: Bão, lốc xoáy, dông sét, mưa lớn, lũ lụt, rét đậm. Mùa mưa, lũ ở Bắc Bộ kết thúc sớm, ngay từ tháng VIII gây nên tình trạng thiếu nước kéo dài liên tục trong nhiều tháng và khô hạn ở nhiều khu vực. Đặc biệt là hai cơn bão số 9 và số 11 với cường độ rất mạnh kèm theo mưa lớn gây lũ, lụt nghiêm trọng làm thiệt hại nặng nề về người, tài sản, đời sống của nhân dân các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên.
Trong năm đã có 11 cơn bão và 3 áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) hoạt động trên khu vực Biển Đông, trong đó có 6 cơn bão và một ATNĐ ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền và hải đảo nước ta là các cơn bão số 4, số 7, số 9, số 10 và số 11, 2 ATNĐ ảnh hưởng gián tiếp. Đặc biệt ATNĐ tháng IX, tuy không đổ bộ, nhưng lại gây mưa to, lũ lớn ở các tỉnh ven biển miền Trung và Tây Nguyên.
Bão và ATNĐ hoạt động trên Biển Đông và ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta ở mức nhiều hơn trung bình nhiều năm (TBNN), trong đó có nhiều cơn bão đôi hoạt động đã làm đường đi và cường độ của bão thay đổi liên tục và diễn biến được coi là phức tạp nhất trong 20 năm lại đây. Đặc biệt các cơn bão số 9, số 10 và số 11 đều đột ngột đổi hướng hoặc mạnh lên khi đi vào Vịnh Bắc Bộ hoặc sắp đổ bộ vào đất liền nước ta.
Đầu tháng VII, xuất hiện lũ lịch sử trên sông Nậm Mu tại Tà Gia và trên sông Gâm.
Hai đợt mưa, lũ lớn vào cuối tháng IX và đầu tháng XI, gây ngập lụt nghiêm trọng ở khu vực Trung Bộ và Tây Nguyên.
Đợt triều cường cao nhất trong vòng 50 năm qua tại Phú An trên sông Sài Gòn gây ngập úng nhiều vùng thuộc thành phố Hồ Chí Minh.
Cuối năm 2009, mực nước hạ lưu sông Hồng và sông Thái Bình xuống mức thấp kỷ lục; mực nước tại Hà Nội xuống mức 0,66m (1h/29/XII), tại Phả Lại:-0,16m (19h/28/XII), gây hạn hán, thiếu nước ảnh hưởng tới dân sinh và nông nghiệp.
Chính vì sự bất thường của thời tiết và thủy văn nên năm 2009 là một trong những năm nước ta bị thiệt hại rất lớn về kinh tế.
1. Đặc điểm chung về tình hình thời tiết
Trong năm 2009 đã xảy ra rất nhiều hiện tượng khí tượng thuỷ văn (KTTV) nguy hiểm như: Bão, lũ, rét đậm, khô hạn….Cụ thể là:
+ 11 cơn bão và 3 ATNĐ hoạt động trên biển Đông; trong đó có 6 cơn bão và 1 ATNĐ ảnh hưởng trực tiếp nước ta. Bão và ATNĐ hoạt động trên biển Đông tuy muộn hơn so với TBNN, nhưng diễn biến về cường độ và hướng di chuyển của chúng rất phức tạp.
+ 28 đợt không khí lạnh (KKL) ảnh hưởng đến nước ta, ít hơn TBNN 4 đợt, trong đó có 18 đợt gió mùa Đông Bắc và 10 đợt KKL tăng cường. Riêng trong tháng I có 2 đợt rét đậm, rét hại, nhiệt độ trung bình ngày phổ biến từ 11-15°C, vùng núi và trung du từ 8-10°C; băng, tuyết đã xuất hiện ở các vùng núi cao thuộc các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Lạng Sơn. Tháng XII có một đợt rét đậm trên diện rộng, ở Bắc Bộ kéo dài 3-4 ngày. Rét đậm, rét hại cũng ít hơn nhiều so với TBNN, nhưng lại xuất hiện sớm khoảng 1 tuần so với TBNN.
+ 12 đợt nắng nóng tại các tỉnh thuộc Bắc Bộ, Bắc và Trung Trung Bộ; nhiệt độ cao nhất phổ biến từ 36 - 39°C.
+ 19 đợt mưa lớn diện rộng ở Bắc Bộ và Trung Bộ, ít hơn so với TBNN và ít hơn so với năm 2008 là 5 đợt. Đặc biệt là các đợt mưa lớn: Từ ngày 01 - 06/VII, xảy ra ở vùng núi phía Bắc và Tây Bắc Bắc Bộ; từ ngày 02 - 09/IX, từ ngày 22 – 30/IX, từ ngày 01 - 04/XI xảy ra ở Trung Bộ và Tây Nguyên đã gây ra lũ quét, lũ lớn, lụt, sạt lở đất nghiêm trọng, làm thiệt hại nặng nề về người và tài sản ở những khu vực này.
+ Từ tháng III đến tháng VI, đã xảy ra nhiều trận dông, lốc xoáy kèm mưa đá tại các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Sóc Trăng, Tiền Giang và Cà Mau gây thiệt hại đáng kể về người và tài sản của nhân dân.
2. Đặc điểm chung về tình hình thuỷ văn
Trên các sông chính đã xảy ra 9 trận lũ. Đặc biệt có 2 đợt lũ lớn, lũ lịch sử (xảy ra từ ngày 28 - 30/IX và từ ngày 01 – 03/XI) trên các sông thuộc Trung Bộ, Tây Nguyên.
Các sông ở Bắc Bộ: Lũ tiểu mãn xảy ra vào giữa tháng V/2010, sớm hơn bình thường (22/V), trên hầu hết các sông với biên độ lũ lên từ 2 - 4m, đỉnh lũ cao hơn TBNN, riêng lũ tiểu mãn trên sông Gâm thuộc loại lớn nhất trong chuỗi số liệu quan trắc trong tháng V. Vào đầu tháng VII, mưa lớn đã gây ra đợt lũ trên các hệ thống sông ở Bắc Bộ với đỉnh lũ ở một số nơi lên trên mức báo động II (BĐII); đặc biệt lưu lượng nước trên sông Nậm Mu tại Tà Gia và lưu lượng đến hồ Tuyên Quang trên sông Gâm đạt mức lũ lịch sử. Trên các hệ thống sông ở Bắc Bộ, xảy ra ít lũ và đỉnh lũ ở hạ lưu sông Hồng, sông Thái Bình thuộc loại nhỏ.
Các sông ở Trung Bộ và Tây Nguyên: Những ngày cuối tháng IX và đầu tháng XI, trên các sông ở Trung, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đã xuất hiện hai đợt lũ lớn và đặc biệt lớn. Đỉnh lũ trên phần lớn các sông vượt mức BĐIII từ 1 – 6,5m, một số sông đã đạt và vượt mức lịch sử, gây ngập lụt nghiêm trọng trên địa bàn các tỉnh từ Quảng Bình đến Khánh Hòa, Gia Lai và Kon Tum.
Các sông ở Nam Bộ: Mực nước cao nhất năm 2009 trên sông Tiền tại Tân Châu là 4,12m, thấp hơn BĐIII: 0,08m (ngày 11 và 14/X); trên sông Hậu tại Châu Đốc 3,52m, cao hơn BĐIII: 0,02m. Tuần đầu tháng XI/2009, xuất hiện một đợt triều cường cao, mực nước đỉnh triều tại các trạm vùng hạ lưu đều vượt mức tại trạm Phú An đạt, cao nhất trong chuỗi số liệu quan trắc mức 1,56m BĐIII, đặc biệt trên sông Sài Gòn
Lũ quét xảy ra ở nhiều địa phương thuộc Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Đặc biệt, do ảnh hưởng của mưa bão số 9, lũ quét đã xảy ra ở nhiều nơi thuộc tỉnh Kon Tum, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Các trận lũ quét trong năm 2009 đã làm 47 người chết và mất tích. Tổng thiệt hại lên tới 48 tỷ đồng.
Do mùa mưa lũ kết thúc sớm so với bình thường khoảng 1 tháng nên dòng chảy trên các sông suối giảm nhanh. Đến cuối năm, trên các sông thuộc hệ thống sông Hồng - Thái Bình, mực nước xuống thấp và đạt mức thấp kỷ lục dẫn tới khả năng khô hạn, thiếu nước trên diện rộng trong mùa khô 2009 – 2010.
(Chi tiết xin liên hệ với ông Bùi Đức Long – Trưởng phòng dự báo Thủy văn Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, DD: 0912671565 hoặc Email: longkttv2@gmail.com.
|